Thứ Hai, 28 tháng 11, 2011

đừng hỏi

những người ghét ta đi rồi
những người yêu ta đi rồi
đừng hỏi
ta cũng đi rồi

tưởng

tưởng chưa bao giờ đi khỏi nhà
thấy con đường là sợ

tưởng còn nằm trong nôi
thấy con người là sợ

tưởng chưa bao giờ học chữ
thấy hình quay lưng đi

tưởng không bao giờ làm thơ
tháy bài thơ
ngượng
chấp chới một nghĩa nào đó
mắt kém
tìm không ra

chấp chới một lời nào đó
quên trong giỏ
thơ để sau nhà

chấp chới một con người nào đó
kêu to
làm tiếng sáo bị đứt

suốt đời hỏi
tại sao?

dịch

dịch bài thơ chiến tranh
sợ không biết chọn chữ
cứ để thời gian trôi
bài thơ bỏ dở
-ai người sẽ dịch sau

đôi lúc

đôi lúc hỏi quê ở đâu
-không nhớ
đôi lúc hỏi người ở đâu
-không nhớ
đôi lúc hỏi tình yêu ở đâu
-không nhớ
đôi lúc hỏi mình ở đâu
-không nhớ

klhông tìm thấy đường về

ba mươi năm trở lại
không tìm thấy đường về

ngoài cửa
chấp chới con bướm rủ tìm Đào Nguyên

đi tìm chữ

đi tìm chữ
thấy sách cũ
mọt

tiếc
những câu không ghi lại

đầu mình
như dòng sông
có nhiều cái neo bỏ rơi

Chủ Nhật, 20 tháng 11, 2011

Không đề

đôi lúc sợ những câu thơ
viết ra trong tưởng tượng
đôi lúc sợ những tình yêu
sống trong tưởng tượng
đôi lúc sợ máu chảy
bởi làm sống lại bóng tối
đôi lúc rất muốn nhìn vào màu đen
vì có nước mắt...
nước mắt...
nước mắt...

Thứ Tư, 19 tháng 10, 2011

không đề

em hãy nói với anh một lời yêu đi
thành thật vào

và anh sẽ treo cổ
bằng lời nói của em

khi bình minh lên

không đề

trên sân khấu anh là một diễn viên
trong đời
đừng diễn tiếp

đạo cụ cho người ta xem
vũ khí ở đời giấu kín

thường ta chỉ biết điều này
khi hấp hối

chuồn

lẽ ra tôi đã chạy trốn
nay bị dính bẫy rồi
lẽ ra tôi không yêu nữa
nay trái tim đã thủng rồi

con sư tử khóc vì thiếu sa mạc
con đại bàng buồn vì thiếu núi

con chuồn chuồn
chuồn chuồn
chuồn...
không thể thoát

Thứ Tư, 20 tháng 7, 2011

bắt đầu

những chú ong bay rù rì
màu xanh của mùa đang ngủ trong nắng chin
chú lính ở lăng vua vẫn đứng gác...
ta bắt đầu từ đâu?!

Thứ Ba, 5 tháng 7, 2011

thành phố trong giấc mơ đảo

nắng bôi trên các ngọn cây nhòe màu
buổi trưa ồn ào bữa ăn của các bà lắm chuyện
biển vẫn xanh
nỗi sợ hãi giấu mình ở đâu đấy
những con tem mới có buồn hơn thời bao cấp ?
đồng tiên lạm phát thiên mã đi với tăng trưởng
xe buýt chạy trong tiếng chửi của người lơ xe
thành phố trong giấc mơ đảo
bồng bềnh ký ức đuổi theo những sắc phong
kẻ đồng hành rút dao
ta lại nhắm mắt để nhìn thấy Phật

Thứ Sáu, 10 tháng 6, 2011

nụ cười đen

những con tàu như đồ chơi
bơi trên những giếng dầu
đỏ đôi mắt từ đáy sâu
những con cá bơi
không đợi ngày trở về
cái chết khô trên những cột buồm

những trang viết trắng
bay giữa tưởng tượng
màu đen hắc ín từ tay láng giềng
nụ cười đen

Thứ Hai, 6 tháng 6, 2011

những đứa con lai

phượng đỏ
ném những cái nhìn vào khách qua đường
thói xấu chồm lên
màu xanh

tôi lấy chiếc khèn lá
thổi lên một điệu hoang dại
những đứa con lai
thích vọng ngoại

mùa hè
cỏ đã mọc
trong những nỗi nhớ không trở về
xóa nhòa các đường biên

Thứ Sáu, 29 tháng 4, 2011

ký ức

mùi bùn bốc lên từ ao sau nhà
những cuốn sách cựa quậy sau mùa xuân
ký ức của những bông hồng rất ngăn ngủi
hương của chúng được giữ lại trong đầu
cái lưỡi ẩm ướt bỗng triết lý
trang giấy trắng không trốn được
đành tự nguyện làm một tên tù

Thứ Sáu, 11 tháng 2, 2011

"Tài năng" và "niềm tin" của người viết

"Tài năng" và "niềm tin" của người viết-phải vậy không?
Đầu năm nay, trong cuộc trả lời phỏng vấn của báo “Văn hóa thể thao”, nhà phê bình văn học Nguyễn Thanh Sơn có trả lời về sự trả giá của văn học Việt Nam:“Văn học Việt Nam có rất nhiều vấn đề. Thứ nhất, chúng ta không có tài năng. Sức sáng tạo trong văn học của chúng ta trong giai đoạn này rất yếu. Một trong những lý do quan trọng nhất là văn học Việt Nam đang phải trả giá cho một giai đoạn khủng hoảng từ những năm trước, những năm 1980, 1990. Thế hệ nhà văn lẽ ra phải viết sung sức nhất là thế hệ nhà văn khoảng 30 tuổi, thế hệ nhà văn sinh vào những năm 1980, nhưng theo quan điểm của cá nhân tôi, đó lại là một thế hệ mất niềm tin, mất các giá trị. Chúng ta muốn viết hay, muốn phấn đấu cho điều gì thì phải tin vào những giá trị, còn thế hệ 8X là thế hệ không có giá trị. Họ không biết giá trị của họ ở đâu, không biết giá trị của văn chương, của nghệ thuật ở chỗ nào. Họ không xác định được giá trị cho họ. Chính vì thế nên bây giờ nền văn học phải trả giá.” (Thể thao&Văn hóa, Thứ ba, Ngày 08-2-2011)Những ý kiến trên khiến chúng ta ít nhiều đều có sự suy nghĩ. Tôi không bàn về toàn bộ những nhận định của NTS, mà chỉ nói về hai vấn đề “tài năng” và “niềm tin” của người viết.
A.Trước hết, cần phải thấy rằng đây là một sự trả lời không e ngai và thẳng thắn. Điểm thứ hai, nội dung trả lời có nhiều điều cần phải xem xét một cách nghiêm túc.Về tài năng văn học, chúng ta chỉ có thể xác nhận qua những tác phẩm “lớn”. Điều này, ai cũng thấy rằng phút này có công nhận ai đó, thì cũng là ảo tưởng. Trong vài thập niên gần đây không có tác phẩm nào thực tế có thể đưa lại cơn sốc cho độc giả. Bất chấp những giải thưởng lớn hay nhỏ, quốc gia hay quốc tế, sự mờ nhạt của tác phẩm trong đời sống văn học là có thực. Độc giả không quan tâm, những người viết cũng không quan tâm. Dường như không có gì cuốn hút họ vào dòng chảy văn học. Ngay cả ở một cơ quan mang trọng trách nhất là Hội Nhà văn Việt Nam, người ta cũng không tìm thấy dấu ấn của những cố gắng đạt được tác phẩm lớn. Thực tế đó làm nhiều người sốt ruột. Đời sống văn học thì vẫn có, thậm chí với quy mô lớn hơn trước, nhưng tác phẩm hay thì không. Không thấy những cây đại thụ. Cũng không thấy những cái cây trung bình. Thậm chí cả những mầm hy vọng sáng láng cũng không thấy có.Dường như người ta thật khó xác định, những cây bút như Nguyễn Ngọc Tư có thể thật sự “lớn” không. Người ta vẫn cảm thấy đấy vẫn là cây bút đang hình thành, chưa khẳng định tầm cỡ như một tiểu thuyết gia lớn và hấp dẫn. Những mong muốn của những cây viết như vậy vẫn dừng lại ở mức độ bằng lòng với một nghề viết văn chuyên nghiệp, và thế là đã có thể thỏa mãn rồi. Một cây bút thực sự chuyên nghiệp như Hồ Anh Thái, lại không tìm thấy sự ủng hộ của độc giả trong tác phẩm đầu tư nhiều nhất thời gian của anh về Đức Phật. Người ta chưa hiểu hoặc chưa sẵn sàng muốn hiểu.Vài cây viết hải ngoại muốn mang lại cho văn học một cái gì mới về bút pháp, nhưng đúng như nhà phê bình Nguyễn Thanh Sơn nói, họ chưa đại diện cho giá trị gì cả.Như vậy , sau bao nhiêu tự do mà người ta mong mỏi có, cái mà người ta mong đợi nhất là những “ngôi sao” trong văn học chưa thấy đâu.Một vài nhà phê bình nói, họ có thể yên tâm không cần đọc văn học, vì ở đó chẳng có gì mà đọc.Và chúng ta quay lại đi tìm trong các lý thuyết khác nhau, mong tạo ra những người khổng lồ trong văn học. Có những kiến giải chân thật cho rằng thời đại của những người khổng lồ đã không còn nữa. Không có những lý tưởng lớn khiến con người phải dấn thân, và cuộc sống đang trở nên tẻ nhạt và buồn chán. Điều đáng nực cười nhất của các nhà phê bình là bới móc những đống rác cũ của lịch sử để dựng lại những chân dung “con người lớn”, “con người vĩ đại”.Tâm thế thất vọng, không ổn định của lịch sử đã khiến con người ta đi tìm tòi ở những lĩnh vực bế tắc và không còn cái mới.Theo thiển ý của riêng tôi, lý giải điều này cần phải nhìn tới tương lai. Cuộc sống không đến nỗi buồn chán để có thể mất mọi niềm tin vào cuộc đời và con người. Đó cũng là cơ sở để hướng tới một nền văn học mang tính người và chân thật, cũng như mang sức sáng tạo mạnh mẽ hơn.B. Việc lý giải do việc sinh ra các thế hệ nhà văn không có giá trị cũng đã nảy sinh ra nền văn học nhợt nhạt, yếu đuối. “Chúng ta muốn viết hay, muốn phấn đấu cho điều gì thì phải tin vào những giá trị, còn thế hệ 8X là thế hệ không có giá trị”. Nói đúng hơn đây là sự trả giá cho niềm tin. Việc khủng hoảng niềm tin là một điều có thực đang tồn tại trong xã hội ta. Nhưng nếu lấy điều đó làm căn cứ thì chắc cũng còn nhiều băn khoăn, chưa hoàn chỉnh, thậm chí còn chưa đúng. Nó cũng chỉ có giá trị tức thời, vào một giây phút nào đó.Thực ra, tài năng ra đời bất chấp hoàn cảnh. Mọi điều kiện thuận lợi hay không thuận lợi chỉ là yếu tố cần hoặc đủ cho văn nghệ phát triển mà thôi.Chúng ta hãy nhớ lại hoàn cảnh như Tào Tuyết Cần viết “Hồng lâu mộng”, Xéc-văng –tét viết “Đông-ky-sốt”, hay thậm chí cả tác gia đỏ như Ôt-xtrốp-xky viết “Thép đã tôi thế đấy”, hoặc A.Tôn-xtôi viết “Con đường đau khổ”...Chúng ta không có lý giải rõ ràng về sự xuất hiện của những tài năng vĩ đại trên. Lý do là lịch sử không bao giờ một chiều và chấp nhận những cá nhân đa dạng.Nhưng có một điều chắc chắn là toàn bộ những tác phẩm nổi tiếng của họ là sản phẩm của máu và nước mắt của chính bản thân các tác giả. Nó không phải là sản phẩm của một công nghệ hoàn chỉnh, có tính cộng đồng nào, mà trước hết nó phụ thuộc vào nỗ lực của bản thân người sáng tác và ý chí của họ. Chúng là độc nhát, vô nhị. Nó cũng là câu trả lời của họ với thế giới bất chấp sự không hòan hảo và thiếu thiện chí của hiện thực với cá nhân mỗi người. Những đề tài ấy, cũng chính là cách sống,cách hành xử của họ với thời đại, với con người nhân loại.Như vậy, trái với những tác phẩm chính luận, con người của những tuyên ngôn mang nhiều màu sắc chinh trị và thời cuộc, con người của tác phẩm chính là đời sống và mối quan tâm của họ, hay nói đúng hơn đó là chất liệu tâm hồn họ. Ở đây, ta chưa bàn đến cách thức họ giãi bày. Đó lại là một câu chuyện khác. Nhưng chúng ta đang phải chứng kiến một điều là chất liệu của đời sống tâm hồn có thể trái ngược cả với tuyên ngôn chính trị của nhà văn. Và như vậy niềm tin, theo cách ta quan niệm, có thể chưa hẳn là chất liệu tác giả đưa vào nhận thức đời sống bằng tác phẩm. Vì vậy chúng ta nói tới giá trị nào ở đây:-“Giá trị của niêm tin, hay giá trị của đời sống tâm hồn?”. Hay đó là một tổ hợp lẫn lộn của nhưng giá trị ảo và giá trị thực, của những giá trị mang tính vật chất và những giá trị mang tính tinh thần...Để nhận chân những vấn đề như vậy, chắc cần phải có thời gian và những nghiên cứu có chiều sâu về sự hình thành của các tác gia lớn và tác phẩm lớn.Dù vậy, cho đến hôm nay, thì chúng ta đã thấy ít nhiều chân dung của những người khổng lồ thường hiện diện qua những tham vọng của họ như chính một con người hoàn chỉnh. Không có những tham vọng ấy, chỉ có thể hình thành những người viết văn giá áo túi cơm mà thôi.Tôi ghi lại đây hai nhận xét thoáng qua của mình khi đọc NTS mà chưa có khảo nghiệm kỹ về vấn đề này. Nó cũng là phản ứng tức thời với những gì đang xảy ra trong đời sông văn học của chúng ta.',0);
Đầu năm nay, trong cuộc trả lời phỏng vấn của báo “Văn hóa thể thao”, nhà phê bình văn học Nguyễn Thanh Sơn có trả lời về sự trả giá của văn học Việt Nam:“Văn học Việt Nam có rất nhiều vấn đề. Thứ nhất, chúng ta không có tài năng. Sức sáng tạo trong văn học của chúng ta trong giai đoạn này rất yếu. Một trong những lý do quan trọng nhất là văn học Việt Nam đang phải trả giá cho một giai đoạn khủng hoảng từ những năm trước, những năm 1980, 1990. Thế hệ nhà văn lẽ ra phải viết sung sức nhất là thế hệ nhà văn khoảng 30 tuổi, thế hệ nhà văn sinh vào những năm 1980, nhưng theo quan điểm của cá nhân tôi, đó lại là một thế hệ mất niềm tin, mất các giá trị. Chúng ta muốn viết hay, muốn phấn đấu cho điều gì thì phải tin vào những giá trị, còn thế hệ 8X là thế hệ không có giá trị. Họ không biết giá trị của họ ở đâu, không biết giá trị của văn chương, của nghệ thuật ở chỗ nào. Họ không xác định được giá trị cho họ. Chính vì thế nên bây giờ nền văn học phải trả giá.” (Thể thao&Văn hóa, Thứ ba, Ngày 08-2-2011)Những ý kiến trên khiến chúng ta ít nhiều đều có sự suy nghĩ. Tôi không bàn về toàn bộ những nhận định của NTS, mà chỉ nói về hai vấn đề “tài năng” và “niềm tin” của người viết.

A.Trước hết, cần phải thấy rằng đây là một sự trả lời không e ngai và thẳng thắn. Điểm thứ hai, nội dung trả lời có nhiều điều cần phải xem xét một cách nghiêm túc.Về tài năng văn học, chúng ta chỉ có thể xác nhận qua những tác phẩm “lớn”. Điều này, ai cũng thấy rằng phút này có công nhận ai đó, thì cũng là ảo tưởng. Trong vài thập niên gần đây không có tác phẩm nào thực tế có thể đưa lại cơn sốc cho độc giả. Bất chấp những giải thưởng lớn hay nhỏ, quốc gia hay quốc tế, sự mờ nhạt của tác phẩm trong đời sống văn học là có thực. Độc giả không quan tâm, những người viết cũng không quan tâm. Dường như không có gì cuốn hút họ vào dòng chảy văn học. Ngay cả ở một cơ quan mang trọng trách nhất là Hội Nhà văn Việt Nam, người ta cũng không tìm thấy dấu ấn của những cố gắng đạt được tác phẩm lớn. Thực tế đó làm nhiều người sốt ruột. Đời sống văn học thì vẫn có, thậm chí với quy mô lớn hơn trước, nhưng tác phẩm hay thì không. Không thấy những cây đại thụ. Cũng không thấy những cái cây trung bình. Thậm chí cả những mầm hy vọng sáng láng cũng không thấy có.Dường như người ta thật khó xác định, những cây bút như Nguyễn Ngọc Tư có thể thật sự “lớn” không. Người ta vẫn cảm thấy đấy vẫn là cây bút đang hình thành, chưa khẳng định tầm cỡ như một tiểu thuyết gia lớn và hấp dẫn. Những mong muốn của những cây viết như vậy vẫn dừng lại ở mức độ bằng lòng với một nghề viết văn chuyên nghiệp, và thế là đã có thể thỏa mãn rồi. Một cây bút thực sự chuyên nghiệp như Hồ Anh Thái, lại không tìm thấy sự ủng hộ của độc giả trong tác phẩm đầu tư nhiều nhất thời gian của anh về Đức Phật. Người ta chưa hiểu hoặc chưa sẵn sàng muốn hiểu.Vài cây viết hải ngoại muốn mang lại cho văn học một cái gì mới về bút pháp, nhưng đúng như nhà phê bình Nguyễn Thanh Sơn nói, họ chưa đại diện cho giá trị gì cả.Như vậy , sau bao nhiêu tự do mà người ta mong mỏi có, cái mà người ta mong đợi nhất là những “ngôi sao” trong văn học chưa thấy đâu.Một vài nhà phê bình nói, họ có thể yên tâm không cần đọc văn học, vì ở đó chẳng có gì mà đọc.Và chúng ta quay lại đi tìm trong các lý thuyết khác nhau, mong tạo ra những người khổng lồ trong văn học. Có những kiến giải chân thật cho rằng thời đại của những người khổng lồ đã không còn nữa. Không có những lý tưởng lớn khiến con người phải dấn thân, và cuộc sống đang trở nên tẻ nhạt và buồn chán. Điều đáng nực cười nhất của các nhà phê bình là bới móc những đống rác cũ của lịch sử để dựng lại những chân dung “con người lớn”, “con người vĩ đại”.Tâm thế thất vọng, không ổn định của lịch sử đã khiến con người ta đi tìm tòi ở những lĩnh vực bế tắc và không còn cái mới.Theo thiển ý của riêng tôi, lý giải điều này cần phải nhìn tới tương lai. Cuộc sống không đến nỗi buồn chán để có thể mất mọi niềm tin vào cuộc đời và con người. Đó cũng là cơ sở để hướng tới một nền văn học mang tính người và chân thật, cũng như mang sức sáng tạo mạnh mẽ hơn.B. Việc lý giải do việc sinh ra các thế hệ nhà văn không có giá trị cũng đã nảy sinh ra nền văn học nhợt nhạt, yếu đuối. “Chúng ta muốn viết hay, muốn phấn đấu cho điều gì thì phải tin vào những giá trị, còn thế hệ 8X là thế hệ không có giá trị”. Nói đúng hơn đây là sự trả giá cho niềm tin. Việc khủng hoảng niềm tin là một điều có thực đang tồn tại trong xã hội ta. Nhưng nếu lấy điều đó làm căn cứ thì chắc cũng còn nhiều băn khoăn, chưa hoàn chỉnh, thậm chí còn chưa đúng. Nó cũng chỉ có giá trị tức thời, vào một giây phút nào đó.Thực ra, tài năng ra đời bất chấp hoàn cảnh. Mọi điều kiện thuận lợi hay không thuận lợi chỉ là yếu tố cần hoặc đủ cho văn nghệ phát triển mà thôi.Chúng ta hãy nhớ lại hoàn cảnh như Tào Tuyết Cần viết “Hồng lâu mộng”, Xéc-văng –tét viết “Đông-ky-sốt”, hay thậm chí cả tác gia đỏ như Ôt-xtrốp-xky viết “Thép đã tôi thế đấy”, hoặc A.Tôn-xtôi viết “Con đường đau khổ”...Chúng ta không có lý giải rõ ràng về sự xuất hiện của những tài năng vĩ đại trên. Lý do là lịch sử không bao giờ một chiều và chấp nhận những cá nhân đa dạng.Nhưng có một điều chắc chắn là toàn bộ những tác phẩm nổi tiếng của họ là sản phẩm của máu và nước mắt của chính bản thân các tác giả. Nó không phải là sản phẩm của một công nghệ hoàn chỉnh, có tính cộng đồng nào, mà trước hết nó phụ thuộc vào nỗ lực của bản thân người sáng tác và ý chí của họ. Chúng là độc nhát, vô nhị. Nó cũng là câu trả lời của họ với thế giới bất chấp sự không hòan hảo và thiếu thiện chí của hiện thực với cá nhân mỗi người. Những đề tài ấy, cũng chính là cách sống,cách hành xử của họ với thời đại, với con người nhân loại.Như vậy, trái với những tác phẩm chính luận, con người của những tuyên ngôn mang nhiều màu sắc chinh trị và thời cuộc, con người của tác phẩm chính là đời sống và mối quan tâm của họ, hay nói đúng hơn đó là chất liệu tâm hồn họ. Ở đây, ta chưa bàn đến cách thức họ giãi bày. Đó lại là một câu chuyện khác. Nhưng chúng ta đang phải chứng kiến một điều là chất liệu của đời sống tâm hồn có thể trái ngược cả với tuyên ngôn chính trị của nhà văn. Và như vậy niềm tin, theo cách ta quan niệm, có thể chưa hẳn là chất liệu tác giả đưa vào nhận thức đời sống bằng tác phẩm. Vì vậy chúng ta nói tới giá trị nào ở đây:-“Giá trị của niêm tin, hay giá trị của đời sống tâm hồn?”. Hay đó là một tổ hợp lẫn lộn của nhưng giá trị ảo và giá trị thực, của những giá trị mang tính vật chất và những giá trị mang tính tinh thần...Để nhận chân những vấn đề như vậy, chắc cần phải có thời gian và những nghiên cứu có chiều sâu về sự hình thành của các tác gia lớn và tác phẩm lớn.Dù vậy, cho đến hôm nay, thì chúng ta đã thấy ít nhiều chân dung của những người khổng lồ thường hiện diện qua những tham vọng của họ như chính một con người hoàn chỉnh. Không có những tham vọng ấy, chỉ có thể hình thành những người viết văn giá áo túi cơm mà thôi.Tôi ghi lại đây hai nhận xét thoáng qua của mình khi đọc NTS mà chưa có khảo nghiệm kỹ về vấn đề này. Nó cũng là phản ứng tức thời với những gì đang xảy ra trong đời sông văn học của chúng ta.

Thứ Hai, 24 tháng 1, 2011

Vài suy nghĩ về thơ hậu hiện đại

vài suy nghĩ về thơ hậu hiện đại
• Liệu có thơ hậu hiện đại không?
• Câu hỏi dường như có câu trả lời sẵn. Nhưng lại không có sự phân định nên gây bối rối
. Bởi lẽ, chẳng ai biết hậu hiện đại là gì. Người làm cứ làm và người giải thích cứ giải thích.
• Sự lẫn lộn giữa thơ tầm thường, thơ xoang, thơ tuyên truyền, thơ phản thơ…là rât lớn. Nó không định ra quy chuẩn mà chỉ thí nghiệm. Có những bài thơ không có tư tưởng, hay tư tưởng được giảng giải với cach hiểu cục bộ, vụn vặt, hay mang tính nhân loại chung chung.
• Làm thơ là mổ xẻ chữ, vặn vẹo nghĩa, đi ngược lại với phản ứng của con người bình thương. Làm thơ là không chiều nịnh, không ve vuốt, không cầu độc giả, thậm chí không xuất bản.
• Thơ hậu hiện đại không vươn tới gì cả. Nó xoá cả hình tích của nhà thơ. Hy sinh vần. Thả cho bạn đọc suy nghĩ gì thì suy nghĩ.
• Sự kêu gọi cách tân giống như sự phản chủ. Nó đi ngược với cơ chế. Nó lợi dụng cơ chế ở chỗ yếu. Nó lợi dụng tính nhân dân. Nó tìm sự hoà đồng ở kẻ thù. Nó không văn hoá bởi nó hành động giống văn hoá. Nó cụ thể thơ thành chuyện ăn ở xoang xĩnh. Và càng làm như vậy, nó tưởng càng hay.
• Nó đi ngược với thơ Đường. Chau chuốt và đưa con ngươi lên vị trí thần thánh. Uống rượu cũng biến thành hành động cao cả của thi nhân. Nhân cách hoá rượu. nhân cach hoá cây cối. Thơ hậu hiện đại phủ nhận con người, biến con người thành con vật.
• Biến thơ thành nơi phản kháng, thơ hậu hiện đại chấp nhân những độc giả nổi loạn. Nó nhằm vào thanh niên, nó nhằm vào những người coi vô văn hoá là văn hoá, nó cụ thể thần phật và những kẻ hạ tiên. Xếp họ chung một chiếu.
• Lý thuyết thì hay nhưng thơ thì dở. Công chúng xa lánh và chỉ nhìn từ xa xem các nhà thơ lên đồng.
• Kỹ thuật hậu hiện dại có thể ảnh hưởng đến dòng thơ hiện thực chính thông. Những nó không biến thơ hiện thực thành thơ hậu hiện đại.
• Thơ là trò chợi. Và khi chơi phải chấp nhận quy luật của sự mất mát. Nhưng than ôi, đừng mất tính người.',0);
• Liệu có thơ hậu hiện đại không?• Câu hỏi dường như có câu trả lời sẵn. Nhưng lại không có sự phân định nên gây bối rối. Bởi lẽ, chẳng ai biết hậu hiện đại là gì. Người làm cứ làm và người giải thích cứ giải thích.

• Sự lẫn lộn giữa thơ tầm thường, thơ xoang, thơ tuyên truyền, thơ phản thơ…là rât lớn. Nó không định ra quy chuẩn mà chỉ thí nghiệm. Có những bài thơ không có tư tưởng, hay tư tưởng được giảng giải với cach hiểu cục bộ, vụn vặt, hay mang tính nhân loại chung chung.
• Làm thơ là mổ xẻ chữ, vặn vẹo nghĩa, đi ngược lại với phản ứng của con người bình thương. Làm thơ là không chiều nịnh, không ve vuốt, không cầu độc giả, thậm chí không xuất bản.• Thơ hậu hiện đại không vươn tới gì cả. Nó xoá cả hình tích của nhà thơ. Hy sinh vần. Thả cho bạn đọc suy nghĩ gì thì suy nghĩ.
• Sự kêu gọi cách tân giống như sự phản chủ. Nó đi ngược với cơ chế. Nó lợi dụng cơ chế ở chỗ yếu. Nó lợi dụng tính nhân dân. Nó tìm sự hoà đồng ở kẻ thù. Nó không văn hoá bởi nó hành động giống văn hoá. Nó cụ thể thơ thành chuyện ăn ở xoang xĩnh. Và càng làm như vậy, nó tưởng càng hay.
• Nó đi ngược với thơ Đường. Chau chuốt và đưa con ngươi lên vị trí thần thánh. Uống rượu cũng biến thành hành động cao cả của thi nhân. Nhân cách hoá rượu. nhân cach hoá cây cối. Thơ hậu hiện đại phủ nhận con người, biến con người thành con vật.
• Biến thơ thành nơi phản kháng, thơ hậu hiện đại chấp nhân những độc giả nổi loạn. Nó nhằm vào thanh niên, nó nhằm vào những người coi vô văn hoá là văn hoá, nó cụ thể thần phật và những kẻ hạ tiên. Xếp họ chung một chiếu.
• Lý thuyết thì hay nhưng thơ thì dở. Công chúng xa lánh và chỉ nhìn từ xa xem các nhà thơ lên đồng.
• Kỹ thuật hậu hiện dại có thể ảnh hưởng đến dòng thơ hiện thực chính thông. Những nó không biến thơ hiện thực thành thơ hậu hiện đại.• Thơ là trò chợi. Và khi chơi phải chấp nhận quy luật của sự mất mát. Nhưng than ôi, đừng mất tính người.

Chủ Nhật, 23 tháng 1, 2011

Thú viết

Thú viết

Một trang giấy trắng đặt trước mắt, trang giấy đẹp đẽ quá để rồi khi đặt bút xuống có một vệt mực là lòng lại thấy băn khoăn. Có đáng làm thế không.(Bây giờ , trước màn hình trắng toát cũng vậy thôi.)Tờ giấy trắng trinh bạch dường như hút hồn.Ta trôi vào một trời phiêu lãng, hỗn độn những kỷ niệm, cố kéo nó ra bằng được bằng hình hài của ngôn ngữ.Câu mở đầu dường như là khó nhất.Bao giờ thì ta ngồi viết nhỉ?Viết là việc làm đơn giản nhưng lại khó khăn biết bao?!Tôi nhớ hồi còn học phổ thông, tôi đã nghiền ngẫm cả tuần liền để viết mở đầu một bài văn nghị luận, cuối cùng không kịp nghĩ đến thân bài, để hoàn thành viết cào viết cấu cho xong. Rôi cô giáo đọc cho cả lớp nghe, nhưng đọc mỗi cái mở đầu.Hê...hê...

“Xưa nay thế thái nhân tìnhVợ người thì đẹp văn mình thì hay”Tôi đã nhặt được câu ấy từ thuở chưa biết yêu, nhưng thích chí treo ở đầu giường mình.Vì tôi biết văn mình bao giờ cũng nhất thế giới.Tôi cũng biết sợ văn thiên hạ từ lúc ấy. Nhưng điều đó càng thúc giục tôi đi tìm câu văn của mình.Nhất là làm thơ. Chỉ khi vừa nghĩ đến thơ là bao nhêu thứ ùa vào đầu mình. Nói tới tình yêu là “lá vàng”, là “cô đơn”, là “sầu” là “mộng” ...thậm chí cả hình ảnh chinh phụ, cô phụ cũng đến hành trí não của mình. Thì áo sẵn đấy, cứ đưa vào thơ mình là xong. Chẳng phải những từ ấy đã biểu hiện hết tình cảm say đắm của lòng mình rôi sao? Căn bênh sáo đó không phải nhiều lúc tôi không mắc.Thực ra, làm sao đọ với tài năng của thiên hạ.Tôi nhiều lần lấy làm xấu hổ về tài năng ngôn ngữ của mình không có, khi nghe các bà các cô nói chuyện cạnh khóe với nhau, khi họ chửi nhau...thâm thúy và tinh tế lắm, chỉ cần băng 1/10 của họ cũng đã là văn tài rồi. Vậy mà lạ, nhưng người đó lại không có thói quen viết.Tôi cũng thích khen lắm, nhưng cứ ai khen câu nào thì tôi lại sợ câu ấy, có lúc giật mình thon thót. Biết đâu trong nhưng điều tôi viết ra chẳng ăn cắp chút của câu Kiều, chút của ca dao, của Nam Cao hoặc của một ai đấy. Câu văn của họ lạc vào đầu mình rồi phản chủ thành câu của mình. Lơ lớ thế.Trò đời, viết ra cái gì thì thích cái ấy. Có thể tôi yêu thơ vì chính tập tọe viết thơ. Rồi nó thành một thói quen,một lối mòn, một kiểu nghĩ thơ.Đừng tưởng rằng chỉ các loại thơ luật như lục bát hoặc đường luật mới có khuôn mẫu.Tôi thấy có người nhại lại cả Chinh Phụ Ngâm từ nhịp điệu và cách dùng từ để viết về thời đại mới ngon ơ.Vậy là người ta có thể ăn cả gốc lẫn ngọn một bài thơ trường thiên dài rồi lặp lại y trang như một thứ công thức. Đấy cũng là một thứ tài năng của con người do ham mê mà có. Nhưng 99% nhũng người như vậy chỉ dừng ở mức những người yêu thơ mà không tiến tới một điều gì mới trong sự viết.Cũng không ít những “nhà” học thuộc lòng Truyện Kiều, để rồi những câu thơ lục bát suốt đời na ná Kiều. Nguyễn Du vĩ đại thay, đã khoanh cái vòng kim cô cho phần lớn các nhà thơ như vậy.Điều đó không xấu và cũng không tốt. Nó là một lẽ đương nhiên.Đi qua cái ải này mới thấy trước mặt mình là trận địa kinh hồn.Viết, trở thành tử địa.Chỉ có điều người ta không chết vì viết.Vũ Trọng Phụng bị ho lao mà chết không phải do ông viết,mà do ông bị bệnh đấy thôi.Cái tử địa của chuyện viết lách nó có cái hay là cứ khi anh bị dồn vào một cánh cửa cuối, thì anh lại mở ra một trận thế khác. Nó nuôi dưỡng ảo tưởng rằng anh sẽ trở thành một tài năng.Ai trong chúng ta chẳng mong ước trở thành một tài năng.Thú viết cũng làm cho chúng ta đổi khác trong cuộc sống. Thay cho việc ôm ấp vợ con, chăm bẵm cây đào cây mận ngoài hè, chúng ta lại hành xác trước trang giấy trắng, chúng ta lại kêu đời là khổ, chúng ta lại nhăn nhó bởi sự suy đồi. Những phút giây tách khỏi cuộc sống tạo ra chút hư vô, tạo ra một khoảng không khác, là bức tranh anh bay vào và không có đường ra.Cũng chẳng ai hạnh phúc hơn chúng ta khi sáng tạo ra một cái gì thật sự mới, ngoài sức tưởng tượng. Ta cảm thấy mình trở nên vĩ đại một cách bình dị.Không hiểu sao tôi cứ hay nghĩ đến nhân vật của Nam Cao trong truyện “Trăng sáng” . Mỗi chúng ta đều như có một cái ghế mây để thăng hoa. Trong khi cơm áo đời thường chung quanh ta giản đơn như vậy.Thú viết là cái ham mê: -“Vừng ơi, mở cửa ra!” của câu chuyện nghìn lẻ một đêm.

Thứ Năm, 20 tháng 1, 2011

Thú đi

Thú đi

Thuở bé, tôi hay ra bờ sông Hồng ngồi và mơ mộng nhìn trời mây. Lúc đó, đang chiến tranh, người đi sơ tán cả nên sông Hồng cũng thưa thớt người đi lại.
Nhìn những bóng người đi gánh nước,bàn chân bám vào phù sa, chậm rãi leo lên các con đường mòn nhỏ ven sông, tôi thấy cuộc sống thật chậm rãi, và bỗng khao khát trong lòng ước vọng nhìn thấy biển, thật lớn, rộng và không thấy bến bờ.
Khi chạm đến bờ biển, nhìn thấy những làn nước xanh thẫm vỗ nhẹ vào bờ, tôi mới có cảm giác rằng cuộc sống này lớn rộng thật nhưng cũng hữu hạn bao nhiêu.
Và từ đấy, mỗi chuyến đi đến một vùng đất mới đều như mở cho tôi thêm một một cánh cửa nhỏ đến với tri thức và cảm nhận thực của đời.
Tôi chọn nghề báo vì niềm vui được đi và được sống qua những chuyến đi.
Hương vị của những vùng đất khác nhau, sự tình cờ của những số phận gặp gỡ nhau trên đường, niềm vui khi được sẻ chia một vài ý nghĩ trong đêm mưa với người bạn tình cờ sau không gặp lại nhau, cảm giác xao xuyến của một tách cà phê lúc hoàng hôn trên đất đỏ ba-zan...dần thấm đượm thành một cơn nghiện của tâm hồn. Có lúc tôi đã định đếm các chuyến đi để cất thành một tài sản của tâm tư...
Lúc đó, tôi mới thấy dù chỉ là một mẩu chân lý nhặt được ở trên đường nó cũng có giá trị hơn so với bao nhiêu bạc vàng ta sẵn có. Giá trị của nó ở chính niềm vui vô tư,dâng hiến, cảm nhận khám phá thế giới và cho chúng ta chất liệu mới của tâm hồn.
Đi-để học, biết, và cảm nhận...
Chắc chắn, người ta sẽ có nhiều kinh nghiệm hơn sau các chuyến đi, trở nên lịch lãm hơn, tinh tế hơn,giàu tính người hơn. Khi ta đằm mình vào cuộc sống, không ham hố, ăn tươi nuốt sống một danh lam thắng cảnh, nhằm tính điểm du lịch, hình như cuộc sống sẽ tràn đầy. Chuyến đi của bạn có giá trị như một liều thuốc bổ làm tươi mát thế giới nhận thức, làm chúng ta sống đẹp hơn.

Đôi khi, sống quá lâu ở một nơi nào đấy, đột ngột ta cảm thấy bức bối, tù hãm, và thế là những chuyến đi trở thành cứu cánh cho mọi chuyện.
Cái sự đi của Nguyễn Tuân cũng hàm ý này chăng?
Thực ra chuyến đi đẹp nhất là những chuyến đi của tâm hồn. Bằng cách nào đấy, chúng ta chạm vào trái tim Mẹ, và vũ trụ trở nên sống động, tinh khôi.
Giống như khi nghe một bản nhạc bất ngờ, lòng ta chập chờn buông theo giai điệu và chìm đắm vào nó từ lúc nào không biết. Thế giới với ta là một.
Có lần ở Ri-ga, tôi đã nghe người ta chơi một bản nhạc của Bách qua dàn Organ của nhà thờ. Dù chẳng hiểu gì về âm nhạc, nhưng tác động của nó đã làm tôi thẫn thờ khi đi khỏi nhà thờ ấy. Tôi bước vào một vườn tượng và có cảm giác như đang sống giữa những con người.
Sư tình cờ của một chuyến đi đã tặng cho tôi cảm giác thánh thiện ấy, để khiến nhiều năm sau tôi vẫn nhớ.
Muốn viết văn,chắc chắn bạn phải đi nhiều. Không hẳn là các địa điểm bạn qua sẽ là nơi bạn bạn ghi nhớ. Hành trình ở chinh tâm hồn bạn. Và biết đâu, ở một chỗ nào đó, sẽ tăng nguyên cho bạn một cốt truyện tuyệt vời...

Thứ Tư, 19 tháng 1, 2011

Thú đọc sách

Thú đọc sách

Trong mọi thứ giải trí và tích lũy kiến thức của con người thì đọc sách là một việc hữu ích.
Người ta hay dùng từ ‘mọt sách” để ví von với người nặng về sự đọc mà ít quan tâm đến thực tế cuộc sống đang diễn ra hàng ngày. Nói chung là sự đọc dễ dẫn dắt người ta đén một tình trạng ham mê thái quá.Chuyện Đông-Ki-Sốt vì ham mê chuyện hiệp sĩ muốn hành đạo cứu đời không khác xa đời thực bao nhiêu. Cũng từ đó mới có anh chảng hào hiệp Đông-Ki-Sốt bất chấp cối xay gió, cũng như cuốn tiểu thuyết nổi tiếng mở ra truyền thống tiểu thuyết kể những câu chuyện ly kỳ, đầy sức sáng tạo của con người.
Trên thực tế những cuốn sách cũng nảy sinh ra từ cuộc sống.Và đọc chúng cũng đồng thời sống theo một nghĩa nào đó gián tiếp. Thói quen đọc sách cũng phản ánh một mức độ nào đấy trình độ chung của người đọc. Nhìn vào tủ sách của một người, đại khái cũng có thể hiểu được mối quan tâm của anh ta như thế nào với các vấn đề cuộc sống.
Tôi thường buồn khi đến chơi với những người bạn không có cuốn sách nào trong nhà. Không phải mình buồn về bạn (là mình buồn vì không có cơ hội mượn bạn thêm một cuốn sách hay).
Người làm nghề viết càng cần đọc sách. Khi viết sách mà không đọc người khác, thường dễ chủ quan, cho mình là nhất, những hiểu biết của mình là độc đáo. Sự thực không phải như vậy. Sách mở ra cho chúng ta nhiều cánh cửa của thế giới, nhưng đồng thời cũng khép lại nhưng ảo vọng của tầm nhìn hạn hẹp. Khi viết văn mà đọc quá nhiều sách, không phải ai cũng có dũng cảm viết tiếp, bởi lẽ, trên đời những người viết văn hay quá nhiều.
Khi tôi nói chuyện với những bậc thầy đáng kính, có người thú nhận rằng đọc và hiểu tiền nhân rồi thì có lúc không dám viết. Không phải chỉ ở câu văn hay,mà còn ở cái tâm sáng, ở tấm lòng với người , ở cái chất người “vằng vặc” như sao Khuê, sao Đẩu. Cái thông minh của người đọc sách có lẽ còn ở chỗ lúc nào thì dừng lại, và lúc nào thì nên đọc tiếp.
Nguyễn Tuân có nói người viết văn phải thực hiện ba việc cùng một lúc: đi, đọc, viết. Cái tối quan trong của đọc là ở chỗ nó tìm cho chúng ta một chuẩn mực, mà thấp dưới mức chúng ta đọc thì chúng ta không công nhận, và thấy rằng mọi việc trở nên vô nghĩa.
Cũng là người viết, nhưng cách đọc sách mỗi người mỗi khác.Có người lẩm dẩm từng câu, từng chữ, có người thì đọc lấy cốt chuyện, xong rồi bỏ. Có người giữ sách ở nhà, lập thư viện, quyển lớn chồng quyển bé. Lúc rỗi thì mang đọc đi đọc lại một cuốn.Có người đọc xong rồi bỏ đi, không màng tới sách nữa.
Đến nhà sàn Bác Hồ, thấy tủ sách của Bác rất ít sách. Nhưng không ai phủ nhận sự thông minh, trình độ của Bác về sách vở. Trong đời công tác của Bác không bao giờ Bác ngừng chuyện học tập. Sách Bác mượn, xem ở thư viện, có những gì cần đọc kỹ ghi nhớ trong đầu rồi mang ra truyền bá, thực hành. Bác đọc sách lý luận có, sách thực hành có, hàng ngày đều đọc báo chí để nắm tình hình thời sự và ghi chép, viết bài ngay cho các báo. Những người như Bác làm việc rất có kế hoạch.Giờ giấc cho một ngày người đều có lịch chung.Việc đọc, Bác cũng dành thời gian đủ cần cho mình. Giải quyết việc nào xong việc ấy, cũng không lưu giữ, nên lúc nào cũng thanh thản, không vướng bận.Bác không có ý làm học giả, cần tầm chương trích cú nhiều.
Nhưng đến thư viện của Lê Nin thì thấy đầu óc của ông thật vĩ đại. Dường như ông quan tâm đến tất cả mọi lĩnh vực.Và sách là một phần không thể thiếu trong đời sống hàng ngày. Thư viện của ông đủ các lĩnh vực, và chỉ riêng những ghi chú của ông vào các cuốn sách của học giả khắp thế giới đã là điều đáng nể phục. Vào những giai đoạn căng thẳng nhất của cách mạng Nga, ông vẫn đọc sách. Và ngay cả các tác phẩm kinh điển của cách mạng Nga cũng được ông viết rất nhanh chóng và bài bản, có những trích dẫn hết sức cẩn thận, với tinh thần khoa học cao. Những trước tác của ông cũng không có kiểu sản phẩm tập thể, mà thường do chính tay ông viết. Giờ đây, báo chí phương Tây có nói về việc Lê Nin vài tháng cuối đời có mắc bệnh tâm thần để chỉ trích học thuyết của ông, nhưng lại hoàn toàn không nói đến việc thế hệ Lê Nin được chính nhà trường của Sa Hoàng đào tạo bài bản như những học giả của giới quý tộc, và ông là một trong những người học xuất sắc nhất. Chỉ riêng việc ông đứng ra phê phán toàn bộ triết học trước ông đã chứng tỏ năng lực phi thường của Lê Nin trong lĩnh vực tri thức của thời đại mình.
Việc vật lộn với những cây cổ thụ như vậy là một điều hóc búa. Vì trước hết muốn hiểu được họ, phải là người đọc nhiều không kém gì tác giả.
Việc đúng, sai cũng rất phức tạp, vì mỗi luận điểm thường kèm theo những nhận thức ở bề sâu, không dễ gì nhận chân được nó.
Tôi thich tò mò tìm hiểu xem sở thích đọc của các nhà văn lớn thế nào. Với Prisovin thì rõ ràng kiến thức về ngành nông học, địa chất học, khí hậu học... đã giúp rất nhiều cho trang viết của ông. Kết hợp với những nhận xét về đời sống, văn ông có chiều sâu của trí thức thật tinh tế và sâu lắng. Mác-xim Gorki thì đọc thật khủng khiếp, hầu như ông đọc tất cả các tác giả đương thời.
Niềm say mê đọc sách xuất phát từ nhu cầu hiểu biết. Nhưng nó cũng là nơi con người có thể học tập và tu dưỡng tính tình. Soi vào các trang sách của các vĩ nhân mới thấy rằng minh nhỏ bé thế nào trước thế giới.Có những điều hàng trăm năm sau vẫn còn tươi mới.Tầm vóc trí tuệ của con người trước chúng ta cũng siêu việt chẳng khác gì các thế hệ sau.Có những chân lý hiển nhiên mà khi đọc ta hiểu rằng nó đã tồn tại từ lâu rồi.
(Một ví dụ nhỏ như khi đọc “Quân vương” của Machiavelli tôi thích thú khi phát hiện ra câu “Bản chất con người là cảm thấy mắc nợ những gì nhận được cũng như cảm thấy người khác phải mắc nợ vì những gì mình đã cho.” Cái ý nghĩ đó giống như định nghĩa của Các Mác khi cho rằng con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Chẳng phải cộng anh vào tất cả các mối quan hệ của anh thì sẽ hình thành chính anh sao?-dĩ nhiên đây là luận một cách rất thô thiển.)
Trong mọi trường hợp thì đọc sách sẽ mang lại niềm vui cho các bạn. Không chỉ nói trường hợp thành công, ngay cả khi thất bại , sách cũng là cứu cánh muôn thuở để chúng ta trưởng thành hơn. Còn nếu nói rộng ra, chính học tập là phương tiện cũng như là mục đich để chúng ta hiểu biết hơn thế giới này. Và nó sẽ làm cho chúng ta thêm có bản lĩnh vững vàng trước mọi thử thách của cuộc sống.