Thứ Hai, 24 tháng 1, 2011

Vài suy nghĩ về thơ hậu hiện đại

vài suy nghĩ về thơ hậu hiện đại
• Liệu có thơ hậu hiện đại không?
• Câu hỏi dường như có câu trả lời sẵn. Nhưng lại không có sự phân định nên gây bối rối
. Bởi lẽ, chẳng ai biết hậu hiện đại là gì. Người làm cứ làm và người giải thích cứ giải thích.
• Sự lẫn lộn giữa thơ tầm thường, thơ xoang, thơ tuyên truyền, thơ phản thơ…là rât lớn. Nó không định ra quy chuẩn mà chỉ thí nghiệm. Có những bài thơ không có tư tưởng, hay tư tưởng được giảng giải với cach hiểu cục bộ, vụn vặt, hay mang tính nhân loại chung chung.
• Làm thơ là mổ xẻ chữ, vặn vẹo nghĩa, đi ngược lại với phản ứng của con người bình thương. Làm thơ là không chiều nịnh, không ve vuốt, không cầu độc giả, thậm chí không xuất bản.
• Thơ hậu hiện đại không vươn tới gì cả. Nó xoá cả hình tích của nhà thơ. Hy sinh vần. Thả cho bạn đọc suy nghĩ gì thì suy nghĩ.
• Sự kêu gọi cách tân giống như sự phản chủ. Nó đi ngược với cơ chế. Nó lợi dụng cơ chế ở chỗ yếu. Nó lợi dụng tính nhân dân. Nó tìm sự hoà đồng ở kẻ thù. Nó không văn hoá bởi nó hành động giống văn hoá. Nó cụ thể thơ thành chuyện ăn ở xoang xĩnh. Và càng làm như vậy, nó tưởng càng hay.
• Nó đi ngược với thơ Đường. Chau chuốt và đưa con ngươi lên vị trí thần thánh. Uống rượu cũng biến thành hành động cao cả của thi nhân. Nhân cách hoá rượu. nhân cach hoá cây cối. Thơ hậu hiện đại phủ nhận con người, biến con người thành con vật.
• Biến thơ thành nơi phản kháng, thơ hậu hiện đại chấp nhân những độc giả nổi loạn. Nó nhằm vào thanh niên, nó nhằm vào những người coi vô văn hoá là văn hoá, nó cụ thể thần phật và những kẻ hạ tiên. Xếp họ chung một chiếu.
• Lý thuyết thì hay nhưng thơ thì dở. Công chúng xa lánh và chỉ nhìn từ xa xem các nhà thơ lên đồng.
• Kỹ thuật hậu hiện dại có thể ảnh hưởng đến dòng thơ hiện thực chính thông. Những nó không biến thơ hiện thực thành thơ hậu hiện đại.
• Thơ là trò chợi. Và khi chơi phải chấp nhận quy luật của sự mất mát. Nhưng than ôi, đừng mất tính người.',0);
• Liệu có thơ hậu hiện đại không?• Câu hỏi dường như có câu trả lời sẵn. Nhưng lại không có sự phân định nên gây bối rối. Bởi lẽ, chẳng ai biết hậu hiện đại là gì. Người làm cứ làm và người giải thích cứ giải thích.

• Sự lẫn lộn giữa thơ tầm thường, thơ xoang, thơ tuyên truyền, thơ phản thơ…là rât lớn. Nó không định ra quy chuẩn mà chỉ thí nghiệm. Có những bài thơ không có tư tưởng, hay tư tưởng được giảng giải với cach hiểu cục bộ, vụn vặt, hay mang tính nhân loại chung chung.
• Làm thơ là mổ xẻ chữ, vặn vẹo nghĩa, đi ngược lại với phản ứng của con người bình thương. Làm thơ là không chiều nịnh, không ve vuốt, không cầu độc giả, thậm chí không xuất bản.• Thơ hậu hiện đại không vươn tới gì cả. Nó xoá cả hình tích của nhà thơ. Hy sinh vần. Thả cho bạn đọc suy nghĩ gì thì suy nghĩ.
• Sự kêu gọi cách tân giống như sự phản chủ. Nó đi ngược với cơ chế. Nó lợi dụng cơ chế ở chỗ yếu. Nó lợi dụng tính nhân dân. Nó tìm sự hoà đồng ở kẻ thù. Nó không văn hoá bởi nó hành động giống văn hoá. Nó cụ thể thơ thành chuyện ăn ở xoang xĩnh. Và càng làm như vậy, nó tưởng càng hay.
• Nó đi ngược với thơ Đường. Chau chuốt và đưa con ngươi lên vị trí thần thánh. Uống rượu cũng biến thành hành động cao cả của thi nhân. Nhân cách hoá rượu. nhân cach hoá cây cối. Thơ hậu hiện đại phủ nhận con người, biến con người thành con vật.
• Biến thơ thành nơi phản kháng, thơ hậu hiện đại chấp nhân những độc giả nổi loạn. Nó nhằm vào thanh niên, nó nhằm vào những người coi vô văn hoá là văn hoá, nó cụ thể thần phật và những kẻ hạ tiên. Xếp họ chung một chiếu.
• Lý thuyết thì hay nhưng thơ thì dở. Công chúng xa lánh và chỉ nhìn từ xa xem các nhà thơ lên đồng.
• Kỹ thuật hậu hiện dại có thể ảnh hưởng đến dòng thơ hiện thực chính thông. Những nó không biến thơ hiện thực thành thơ hậu hiện đại.• Thơ là trò chợi. Và khi chơi phải chấp nhận quy luật của sự mất mát. Nhưng than ôi, đừng mất tính người.

Chủ Nhật, 23 tháng 1, 2011

Thú viết

Thú viết

Một trang giấy trắng đặt trước mắt, trang giấy đẹp đẽ quá để rồi khi đặt bút xuống có một vệt mực là lòng lại thấy băn khoăn. Có đáng làm thế không.(Bây giờ , trước màn hình trắng toát cũng vậy thôi.)Tờ giấy trắng trinh bạch dường như hút hồn.Ta trôi vào một trời phiêu lãng, hỗn độn những kỷ niệm, cố kéo nó ra bằng được bằng hình hài của ngôn ngữ.Câu mở đầu dường như là khó nhất.Bao giờ thì ta ngồi viết nhỉ?Viết là việc làm đơn giản nhưng lại khó khăn biết bao?!Tôi nhớ hồi còn học phổ thông, tôi đã nghiền ngẫm cả tuần liền để viết mở đầu một bài văn nghị luận, cuối cùng không kịp nghĩ đến thân bài, để hoàn thành viết cào viết cấu cho xong. Rôi cô giáo đọc cho cả lớp nghe, nhưng đọc mỗi cái mở đầu.Hê...hê...

“Xưa nay thế thái nhân tìnhVợ người thì đẹp văn mình thì hay”Tôi đã nhặt được câu ấy từ thuở chưa biết yêu, nhưng thích chí treo ở đầu giường mình.Vì tôi biết văn mình bao giờ cũng nhất thế giới.Tôi cũng biết sợ văn thiên hạ từ lúc ấy. Nhưng điều đó càng thúc giục tôi đi tìm câu văn của mình.Nhất là làm thơ. Chỉ khi vừa nghĩ đến thơ là bao nhêu thứ ùa vào đầu mình. Nói tới tình yêu là “lá vàng”, là “cô đơn”, là “sầu” là “mộng” ...thậm chí cả hình ảnh chinh phụ, cô phụ cũng đến hành trí não của mình. Thì áo sẵn đấy, cứ đưa vào thơ mình là xong. Chẳng phải những từ ấy đã biểu hiện hết tình cảm say đắm của lòng mình rôi sao? Căn bênh sáo đó không phải nhiều lúc tôi không mắc.Thực ra, làm sao đọ với tài năng của thiên hạ.Tôi nhiều lần lấy làm xấu hổ về tài năng ngôn ngữ của mình không có, khi nghe các bà các cô nói chuyện cạnh khóe với nhau, khi họ chửi nhau...thâm thúy và tinh tế lắm, chỉ cần băng 1/10 của họ cũng đã là văn tài rồi. Vậy mà lạ, nhưng người đó lại không có thói quen viết.Tôi cũng thích khen lắm, nhưng cứ ai khen câu nào thì tôi lại sợ câu ấy, có lúc giật mình thon thót. Biết đâu trong nhưng điều tôi viết ra chẳng ăn cắp chút của câu Kiều, chút của ca dao, của Nam Cao hoặc của một ai đấy. Câu văn của họ lạc vào đầu mình rồi phản chủ thành câu của mình. Lơ lớ thế.Trò đời, viết ra cái gì thì thích cái ấy. Có thể tôi yêu thơ vì chính tập tọe viết thơ. Rồi nó thành một thói quen,một lối mòn, một kiểu nghĩ thơ.Đừng tưởng rằng chỉ các loại thơ luật như lục bát hoặc đường luật mới có khuôn mẫu.Tôi thấy có người nhại lại cả Chinh Phụ Ngâm từ nhịp điệu và cách dùng từ để viết về thời đại mới ngon ơ.Vậy là người ta có thể ăn cả gốc lẫn ngọn một bài thơ trường thiên dài rồi lặp lại y trang như một thứ công thức. Đấy cũng là một thứ tài năng của con người do ham mê mà có. Nhưng 99% nhũng người như vậy chỉ dừng ở mức những người yêu thơ mà không tiến tới một điều gì mới trong sự viết.Cũng không ít những “nhà” học thuộc lòng Truyện Kiều, để rồi những câu thơ lục bát suốt đời na ná Kiều. Nguyễn Du vĩ đại thay, đã khoanh cái vòng kim cô cho phần lớn các nhà thơ như vậy.Điều đó không xấu và cũng không tốt. Nó là một lẽ đương nhiên.Đi qua cái ải này mới thấy trước mặt mình là trận địa kinh hồn.Viết, trở thành tử địa.Chỉ có điều người ta không chết vì viết.Vũ Trọng Phụng bị ho lao mà chết không phải do ông viết,mà do ông bị bệnh đấy thôi.Cái tử địa của chuyện viết lách nó có cái hay là cứ khi anh bị dồn vào một cánh cửa cuối, thì anh lại mở ra một trận thế khác. Nó nuôi dưỡng ảo tưởng rằng anh sẽ trở thành một tài năng.Ai trong chúng ta chẳng mong ước trở thành một tài năng.Thú viết cũng làm cho chúng ta đổi khác trong cuộc sống. Thay cho việc ôm ấp vợ con, chăm bẵm cây đào cây mận ngoài hè, chúng ta lại hành xác trước trang giấy trắng, chúng ta lại kêu đời là khổ, chúng ta lại nhăn nhó bởi sự suy đồi. Những phút giây tách khỏi cuộc sống tạo ra chút hư vô, tạo ra một khoảng không khác, là bức tranh anh bay vào và không có đường ra.Cũng chẳng ai hạnh phúc hơn chúng ta khi sáng tạo ra một cái gì thật sự mới, ngoài sức tưởng tượng. Ta cảm thấy mình trở nên vĩ đại một cách bình dị.Không hiểu sao tôi cứ hay nghĩ đến nhân vật của Nam Cao trong truyện “Trăng sáng” . Mỗi chúng ta đều như có một cái ghế mây để thăng hoa. Trong khi cơm áo đời thường chung quanh ta giản đơn như vậy.Thú viết là cái ham mê: -“Vừng ơi, mở cửa ra!” của câu chuyện nghìn lẻ một đêm.

Thứ Năm, 20 tháng 1, 2011

Thú đi

Thú đi

Thuở bé, tôi hay ra bờ sông Hồng ngồi và mơ mộng nhìn trời mây. Lúc đó, đang chiến tranh, người đi sơ tán cả nên sông Hồng cũng thưa thớt người đi lại.
Nhìn những bóng người đi gánh nước,bàn chân bám vào phù sa, chậm rãi leo lên các con đường mòn nhỏ ven sông, tôi thấy cuộc sống thật chậm rãi, và bỗng khao khát trong lòng ước vọng nhìn thấy biển, thật lớn, rộng và không thấy bến bờ.
Khi chạm đến bờ biển, nhìn thấy những làn nước xanh thẫm vỗ nhẹ vào bờ, tôi mới có cảm giác rằng cuộc sống này lớn rộng thật nhưng cũng hữu hạn bao nhiêu.
Và từ đấy, mỗi chuyến đi đến một vùng đất mới đều như mở cho tôi thêm một một cánh cửa nhỏ đến với tri thức và cảm nhận thực của đời.
Tôi chọn nghề báo vì niềm vui được đi và được sống qua những chuyến đi.
Hương vị của những vùng đất khác nhau, sự tình cờ của những số phận gặp gỡ nhau trên đường, niềm vui khi được sẻ chia một vài ý nghĩ trong đêm mưa với người bạn tình cờ sau không gặp lại nhau, cảm giác xao xuyến của một tách cà phê lúc hoàng hôn trên đất đỏ ba-zan...dần thấm đượm thành một cơn nghiện của tâm hồn. Có lúc tôi đã định đếm các chuyến đi để cất thành một tài sản của tâm tư...
Lúc đó, tôi mới thấy dù chỉ là một mẩu chân lý nhặt được ở trên đường nó cũng có giá trị hơn so với bao nhiêu bạc vàng ta sẵn có. Giá trị của nó ở chính niềm vui vô tư,dâng hiến, cảm nhận khám phá thế giới và cho chúng ta chất liệu mới của tâm hồn.
Đi-để học, biết, và cảm nhận...
Chắc chắn, người ta sẽ có nhiều kinh nghiệm hơn sau các chuyến đi, trở nên lịch lãm hơn, tinh tế hơn,giàu tính người hơn. Khi ta đằm mình vào cuộc sống, không ham hố, ăn tươi nuốt sống một danh lam thắng cảnh, nhằm tính điểm du lịch, hình như cuộc sống sẽ tràn đầy. Chuyến đi của bạn có giá trị như một liều thuốc bổ làm tươi mát thế giới nhận thức, làm chúng ta sống đẹp hơn.

Đôi khi, sống quá lâu ở một nơi nào đấy, đột ngột ta cảm thấy bức bối, tù hãm, và thế là những chuyến đi trở thành cứu cánh cho mọi chuyện.
Cái sự đi của Nguyễn Tuân cũng hàm ý này chăng?
Thực ra chuyến đi đẹp nhất là những chuyến đi của tâm hồn. Bằng cách nào đấy, chúng ta chạm vào trái tim Mẹ, và vũ trụ trở nên sống động, tinh khôi.
Giống như khi nghe một bản nhạc bất ngờ, lòng ta chập chờn buông theo giai điệu và chìm đắm vào nó từ lúc nào không biết. Thế giới với ta là một.
Có lần ở Ri-ga, tôi đã nghe người ta chơi một bản nhạc của Bách qua dàn Organ của nhà thờ. Dù chẳng hiểu gì về âm nhạc, nhưng tác động của nó đã làm tôi thẫn thờ khi đi khỏi nhà thờ ấy. Tôi bước vào một vườn tượng và có cảm giác như đang sống giữa những con người.
Sư tình cờ của một chuyến đi đã tặng cho tôi cảm giác thánh thiện ấy, để khiến nhiều năm sau tôi vẫn nhớ.
Muốn viết văn,chắc chắn bạn phải đi nhiều. Không hẳn là các địa điểm bạn qua sẽ là nơi bạn bạn ghi nhớ. Hành trình ở chinh tâm hồn bạn. Và biết đâu, ở một chỗ nào đó, sẽ tăng nguyên cho bạn một cốt truyện tuyệt vời...

Thứ Tư, 19 tháng 1, 2011

Thú đọc sách

Thú đọc sách

Trong mọi thứ giải trí và tích lũy kiến thức của con người thì đọc sách là một việc hữu ích.
Người ta hay dùng từ ‘mọt sách” để ví von với người nặng về sự đọc mà ít quan tâm đến thực tế cuộc sống đang diễn ra hàng ngày. Nói chung là sự đọc dễ dẫn dắt người ta đén một tình trạng ham mê thái quá.Chuyện Đông-Ki-Sốt vì ham mê chuyện hiệp sĩ muốn hành đạo cứu đời không khác xa đời thực bao nhiêu. Cũng từ đó mới có anh chảng hào hiệp Đông-Ki-Sốt bất chấp cối xay gió, cũng như cuốn tiểu thuyết nổi tiếng mở ra truyền thống tiểu thuyết kể những câu chuyện ly kỳ, đầy sức sáng tạo của con người.
Trên thực tế những cuốn sách cũng nảy sinh ra từ cuộc sống.Và đọc chúng cũng đồng thời sống theo một nghĩa nào đó gián tiếp. Thói quen đọc sách cũng phản ánh một mức độ nào đấy trình độ chung của người đọc. Nhìn vào tủ sách của một người, đại khái cũng có thể hiểu được mối quan tâm của anh ta như thế nào với các vấn đề cuộc sống.
Tôi thường buồn khi đến chơi với những người bạn không có cuốn sách nào trong nhà. Không phải mình buồn về bạn (là mình buồn vì không có cơ hội mượn bạn thêm một cuốn sách hay).
Người làm nghề viết càng cần đọc sách. Khi viết sách mà không đọc người khác, thường dễ chủ quan, cho mình là nhất, những hiểu biết của mình là độc đáo. Sự thực không phải như vậy. Sách mở ra cho chúng ta nhiều cánh cửa của thế giới, nhưng đồng thời cũng khép lại nhưng ảo vọng của tầm nhìn hạn hẹp. Khi viết văn mà đọc quá nhiều sách, không phải ai cũng có dũng cảm viết tiếp, bởi lẽ, trên đời những người viết văn hay quá nhiều.
Khi tôi nói chuyện với những bậc thầy đáng kính, có người thú nhận rằng đọc và hiểu tiền nhân rồi thì có lúc không dám viết. Không phải chỉ ở câu văn hay,mà còn ở cái tâm sáng, ở tấm lòng với người , ở cái chất người “vằng vặc” như sao Khuê, sao Đẩu. Cái thông minh của người đọc sách có lẽ còn ở chỗ lúc nào thì dừng lại, và lúc nào thì nên đọc tiếp.
Nguyễn Tuân có nói người viết văn phải thực hiện ba việc cùng một lúc: đi, đọc, viết. Cái tối quan trong của đọc là ở chỗ nó tìm cho chúng ta một chuẩn mực, mà thấp dưới mức chúng ta đọc thì chúng ta không công nhận, và thấy rằng mọi việc trở nên vô nghĩa.
Cũng là người viết, nhưng cách đọc sách mỗi người mỗi khác.Có người lẩm dẩm từng câu, từng chữ, có người thì đọc lấy cốt chuyện, xong rồi bỏ. Có người giữ sách ở nhà, lập thư viện, quyển lớn chồng quyển bé. Lúc rỗi thì mang đọc đi đọc lại một cuốn.Có người đọc xong rồi bỏ đi, không màng tới sách nữa.
Đến nhà sàn Bác Hồ, thấy tủ sách của Bác rất ít sách. Nhưng không ai phủ nhận sự thông minh, trình độ của Bác về sách vở. Trong đời công tác của Bác không bao giờ Bác ngừng chuyện học tập. Sách Bác mượn, xem ở thư viện, có những gì cần đọc kỹ ghi nhớ trong đầu rồi mang ra truyền bá, thực hành. Bác đọc sách lý luận có, sách thực hành có, hàng ngày đều đọc báo chí để nắm tình hình thời sự và ghi chép, viết bài ngay cho các báo. Những người như Bác làm việc rất có kế hoạch.Giờ giấc cho một ngày người đều có lịch chung.Việc đọc, Bác cũng dành thời gian đủ cần cho mình. Giải quyết việc nào xong việc ấy, cũng không lưu giữ, nên lúc nào cũng thanh thản, không vướng bận.Bác không có ý làm học giả, cần tầm chương trích cú nhiều.
Nhưng đến thư viện của Lê Nin thì thấy đầu óc của ông thật vĩ đại. Dường như ông quan tâm đến tất cả mọi lĩnh vực.Và sách là một phần không thể thiếu trong đời sống hàng ngày. Thư viện của ông đủ các lĩnh vực, và chỉ riêng những ghi chú của ông vào các cuốn sách của học giả khắp thế giới đã là điều đáng nể phục. Vào những giai đoạn căng thẳng nhất của cách mạng Nga, ông vẫn đọc sách. Và ngay cả các tác phẩm kinh điển của cách mạng Nga cũng được ông viết rất nhanh chóng và bài bản, có những trích dẫn hết sức cẩn thận, với tinh thần khoa học cao. Những trước tác của ông cũng không có kiểu sản phẩm tập thể, mà thường do chính tay ông viết. Giờ đây, báo chí phương Tây có nói về việc Lê Nin vài tháng cuối đời có mắc bệnh tâm thần để chỉ trích học thuyết của ông, nhưng lại hoàn toàn không nói đến việc thế hệ Lê Nin được chính nhà trường của Sa Hoàng đào tạo bài bản như những học giả của giới quý tộc, và ông là một trong những người học xuất sắc nhất. Chỉ riêng việc ông đứng ra phê phán toàn bộ triết học trước ông đã chứng tỏ năng lực phi thường của Lê Nin trong lĩnh vực tri thức của thời đại mình.
Việc vật lộn với những cây cổ thụ như vậy là một điều hóc búa. Vì trước hết muốn hiểu được họ, phải là người đọc nhiều không kém gì tác giả.
Việc đúng, sai cũng rất phức tạp, vì mỗi luận điểm thường kèm theo những nhận thức ở bề sâu, không dễ gì nhận chân được nó.
Tôi thich tò mò tìm hiểu xem sở thích đọc của các nhà văn lớn thế nào. Với Prisovin thì rõ ràng kiến thức về ngành nông học, địa chất học, khí hậu học... đã giúp rất nhiều cho trang viết của ông. Kết hợp với những nhận xét về đời sống, văn ông có chiều sâu của trí thức thật tinh tế và sâu lắng. Mác-xim Gorki thì đọc thật khủng khiếp, hầu như ông đọc tất cả các tác giả đương thời.
Niềm say mê đọc sách xuất phát từ nhu cầu hiểu biết. Nhưng nó cũng là nơi con người có thể học tập và tu dưỡng tính tình. Soi vào các trang sách của các vĩ nhân mới thấy rằng minh nhỏ bé thế nào trước thế giới.Có những điều hàng trăm năm sau vẫn còn tươi mới.Tầm vóc trí tuệ của con người trước chúng ta cũng siêu việt chẳng khác gì các thế hệ sau.Có những chân lý hiển nhiên mà khi đọc ta hiểu rằng nó đã tồn tại từ lâu rồi.
(Một ví dụ nhỏ như khi đọc “Quân vương” của Machiavelli tôi thích thú khi phát hiện ra câu “Bản chất con người là cảm thấy mắc nợ những gì nhận được cũng như cảm thấy người khác phải mắc nợ vì những gì mình đã cho.” Cái ý nghĩ đó giống như định nghĩa của Các Mác khi cho rằng con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Chẳng phải cộng anh vào tất cả các mối quan hệ của anh thì sẽ hình thành chính anh sao?-dĩ nhiên đây là luận một cách rất thô thiển.)
Trong mọi trường hợp thì đọc sách sẽ mang lại niềm vui cho các bạn. Không chỉ nói trường hợp thành công, ngay cả khi thất bại , sách cũng là cứu cánh muôn thuở để chúng ta trưởng thành hơn. Còn nếu nói rộng ra, chính học tập là phương tiện cũng như là mục đich để chúng ta hiểu biết hơn thế giới này. Và nó sẽ làm cho chúng ta thêm có bản lĩnh vững vàng trước mọi thử thách của cuộc sống.